Cận thị là nguyên nhân hay gặp nhất gây giảm thị lực trên toàn thế giới và là nguyên nhân đứng thứ hai gây nên tình trạng mù có khả năng điều trị được.
Cận thị xảy ra khi có sự mất cân đối và hài hòa giữa trục trước sau của mắt (quá dài) và công suất hội tụ của giác mạc (quá yếu). Có nhiều yếu tố liên quan làm gia tăng nguy cơ bị cận thị, trong đó quan trọng nhất là di truyền và môi trường làm việc và sử dụng mắt.
Trong tật cận thị, hình ảnh của vật hội tụ ở trước võng mạc gây mờ, người cận thị muốn nhìn các vật ở xa rõ cần phải được đeo kính điều chỉnh sao cho hình ảnh của vật được hội tụ đúng trên võng mạc khi đó mọi vật mới trở nên sắc nét và rõ ràng.
Cận thị do di truyền thường liên quan đến dạng cận thị nặng, cận bệnh lý từ –6.00 diop trở lên. Cận thị nhẹ đa số có ảnh hưởng của môi trường, người ta nhận thấy ở những người hay phải làm công việc cần nhìn gần trong thời gian dài, đặc biệt trong môi trường thiếu ánh sáng có tỷ lệ cận thị cao hơn. Ngoài ra những trẻ sinh non, thiếu tháng khi trưởng thành cũng có tỷ lệ cận thị cao hơn so với các cháu sinh bình thường đủ tháng.
Cận thị nếu không được phát hiện và điều chỉnh kịp thời, thị lực kém sẽ làm giảm khả năng học tập, ảnh hưởng tới mặt thể chất (trẻ ngại vận động, chơi thể thao gây ra béo phì hoặc suy dinh dưỡng . . . ), tinh thần (trẻ có cảm giác tự ti, mất tự tin trong giao tiếp với bạn bè), ngoài ra có thể gây nhược thị.
Độ cận thị giữa 2 mắt chênh lệch nhiều gây bất đồng khúc xạ. Trong đó mắt cận nặng hơn ít được sử dụng, sẽ dẫn đến tình trạng nhược thị (thị lực tối đa dưới 10/10, thậm chí rất thấp dưới 5/10). Thị lực có thể phục hồi nếu nhược thị được điều trị khi trẻ dưới 6 tuổi, nhưng khi trẻ đã lớn sẽ rất khó thậm chí không thể hồi phục. Trong trường hợp nhược thị sâu có thể dẫn đến lé, song thị . . Do vậy phát hiện sớm để được điều trị kịp thời là rất quan trọng.
Cận thị có thể điều chỉnh bằng kính gọng, kính sát tròng, phẫu thuật Laser Excimer (Lasik, Epi-Lasik, PRK LASEK), phakic IOL, Phaco IOL tùy theo mức độ nặng nhẹ, chiều dày giác mạc và các yếu tố khác.
Nét đẹp Châu Âu
Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2015
Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015
Chút suy tư trong ngày
Thành công chỉ đến khi bạn làm việc tận tâm và luôn nghĩ đến những điều tốt đẹp.
Thứ Năm, 9 tháng 4, 2015
Cườm nước (Glaucoma)
Glaucoma (cườm nước) xuất hiện do áp lực trong mắt cao chèn ép và làm tổn thương dây thần kinh thị giác, dẫn đến mất dần thị trường, giảm thị lực.
Glaucoma có thể xảy ra nguyên phát hay sau một bệnh lý toàn thân hoặc tại mắt, nhất là sau dùng những thuốc có nguy cơ gây tăng nhãn áp.
Glaucoma nguyên phát bao gồm Glaucoma góc đóng và góc mở: Loại góc mở có triệu chứng âm ỉ, khó nhận biết và thường ở cả hai mắt, phần lớn được phát hiện tình cờ. Loại góc đóng có triệu chứng đột ngột, đau nhức trong nhãn cầu, nhìn mờ, quầng xanh đỏ quanh nguồn sáng, nhức nửa đầu cùng bên mắt đau, có thể buồn nôn, nôn, đau bụng cấp. Ở lớp bao phủ tròng trắng mạch máu cương tụ, đỏ tập trung sát tròng đen. Đồng tử thường dãn vừa, có thể không tròn đều.
Tất cả mọi người đều có thể bị Glaucoma cấp. Những người có nguy cao bao gồm: Người trên 40 tuổi, người bị tiểu đường hay bị cao huyết áp, gia đình có người bị Glaucoma, viễn thị giác mạc (tròng đen nhỏ), có tiền sử dùng thuốc nhóm steroid trong thời gian dài, cận thị nặng, tiền căn chấn thương hay phẫu thuật mắt.
Yếu tố quan trọng để điều trị Glaucoma hiệu quả là được bác sĩ chuyên khoa mắt chẩn đoán sớm, điều trị lâu dài và theo dõi chặt chẽ. Điều này sẽ giúp bệnh nhân kiểm soát được áp lực nội nhãn và ngăn ngừa sự tổn hại thị trường. Với bệnh Glaucoma góc đóng, phẫu thuật chỉ có hiệu quả đối với trường hợp phát hiện sớm; với Glaucoma góc mở, biện pháp phẫu thuật được áp dụng trong trường hợp điều trị bằng thuốc không hiệu quả nhằm cứu vãn thị lực và thị trường cho bệnh nhân. Glaucoma góc đóng cấp là bệnh cấp cứu nhãn khoa, teo thị thần kinh và mất thị lực không hồi phục có thể xảy ra chỉ trong vòng vài giờ sau khi bệnh khởi phát. Cần chuyển thật nhanh bệnh nhân đến cơ sở có chuyên khoa mắt.
Glaucoma có thể xảy ra nguyên phát hay sau một bệnh lý toàn thân hoặc tại mắt, nhất là sau dùng những thuốc có nguy cơ gây tăng nhãn áp.
Glaucoma nguyên phát bao gồm Glaucoma góc đóng và góc mở: Loại góc mở có triệu chứng âm ỉ, khó nhận biết và thường ở cả hai mắt, phần lớn được phát hiện tình cờ. Loại góc đóng có triệu chứng đột ngột, đau nhức trong nhãn cầu, nhìn mờ, quầng xanh đỏ quanh nguồn sáng, nhức nửa đầu cùng bên mắt đau, có thể buồn nôn, nôn, đau bụng cấp. Ở lớp bao phủ tròng trắng mạch máu cương tụ, đỏ tập trung sát tròng đen. Đồng tử thường dãn vừa, có thể không tròn đều.
Tất cả mọi người đều có thể bị Glaucoma cấp. Những người có nguy cao bao gồm: Người trên 40 tuổi, người bị tiểu đường hay bị cao huyết áp, gia đình có người bị Glaucoma, viễn thị giác mạc (tròng đen nhỏ), có tiền sử dùng thuốc nhóm steroid trong thời gian dài, cận thị nặng, tiền căn chấn thương hay phẫu thuật mắt.
Yếu tố quan trọng để điều trị Glaucoma hiệu quả là được bác sĩ chuyên khoa mắt chẩn đoán sớm, điều trị lâu dài và theo dõi chặt chẽ. Điều này sẽ giúp bệnh nhân kiểm soát được áp lực nội nhãn và ngăn ngừa sự tổn hại thị trường. Với bệnh Glaucoma góc đóng, phẫu thuật chỉ có hiệu quả đối với trường hợp phát hiện sớm; với Glaucoma góc mở, biện pháp phẫu thuật được áp dụng trong trường hợp điều trị bằng thuốc không hiệu quả nhằm cứu vãn thị lực và thị trường cho bệnh nhân. Glaucoma góc đóng cấp là bệnh cấp cứu nhãn khoa, teo thị thần kinh và mất thị lực không hồi phục có thể xảy ra chỉ trong vòng vài giờ sau khi bệnh khởi phát. Cần chuyển thật nhanh bệnh nhân đến cơ sở có chuyên khoa mắt.
Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015
Kỹ thuật LASIK
LASIK (Laser Assisted in Situ Keratomileusis) là phẫu thuật phổ biến và được thực hiện nhiều nhất trong các phẫu thuật khúc xạ, thứ nhì trong các loại phẫu thuật nhãn khoa. Đây là một phương pháp điều trị ít can thiệp, không đau, không chảy máu, không tiêm chích; thị lực hồi phục nhanh chóng, bệnh nhân có thể quay lại với công việc sau khi phẫu thuật 1 ngày, nếu môi trường làm việc sạch sẽ, ít bụi.
Phẫu thuật LASIK được thực hiện lần đầu tiên năm 1989, tại Mỹ, cho tới nay khoảng trên 10 triệu ca LASIK đã được thực hiện trên toàn thế giới.
LASIK bao gồm ba bước:
Bước 1: Một dụng cụ tự động có tên là microkeratome sẽ tạo một vạt giác mạc mỏng như tờ giấy (120-160 micron).
Bước 2: Vạt này được lật lên bộc lộ nền giác mạc, sau đó chùm tia lạnh của Laser Excimer sẽ làm bay hơi từng lớp mô siêu mỏng để tạo hình lại giác mạc theo một chương trình nhất định tùy thuộc loại và mức độ tật khúc xạ và phương pháp nâng cao được chọn.
Bước 3: Vạt giác mạc được trải cẩn thận trở lại che phủ nền giác mạc sau khi kết thúc chiếu laser.
Toàn bộ quy trình điều trị mất khoảng 10-15 phút cho 2 mắt, nhưng thực tế thời gian chiếu Laser chỉ trong khoảng vài giây cho đến vài chục giây
Phẫu thuật điều trị ngoại trú, không mất thời gian nằm viện, sau khi bác sĩ khám kiểm tra lại vết mổ, bệnh nhân ra về. Trước khi phẫu thuật bệnh nhân được nhỏ thuốc tê để không có cảm giác đau, sau phẫu thuật chỉ cần nhỏ thuốc, không cần uống thuốc trừ trường hợp có chỉ định. Thời gian phục hồi rất nhanh, một giấc ngủ ngắn sau khi về nhà sẽ nhanh chóng làm giảm cảm giác cộm xốn, chảy nước mắt nếu có.
Hiện phương pháp này được xem là tương đối hoàn chỉnh và an toàn cao để điều trị các tật cận, viễn và loạn thị.
Laser được sử dụng là laser Excimer, có bước sóng 193 nm, được kích hoạt bởi hỗn hợp khí Argon Fluoride, không sinh nhiệt.
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc về công nghệ, các phương pháp laser đặc biệt được áp dụng để nâng cao chất lượng thị giác cho bệnh nhân. Các chương trình ngày càng phong phú bao gồm: laser theo cá thể, laser phi cầu, laser liên kết bản đồ giác mạc. Để tăng hiệu quả và tính chính xác của các chương trình này, nhiều công nghệ hết sức hiện đại, tiên tiến của chuyên ngành thần kinh, khoa học hàng không vũ trụ, an ninh, được đưa vào ứng dụng phối hợp như các máy đo quang sai bậc cao, nhận dạng mống mắt, hệ thống định vị tâm đồng tử 2 chiều, 3 chiều, định vị trục xoay tĩnh và động, định vị dựa trên nhận thức thần kinh (neurotrack).
LASIK bao gồm ba bước:
Bước 1: Một dụng cụ tự động có tên là microkeratome sẽ tạo một vạt giác mạc mỏng như tờ giấy (120-160 micron).
Bước 2: Vạt này được lật lên bộc lộ nền giác mạc, sau đó chùm tia lạnh của Laser Excimer sẽ làm bay hơi từng lớp mô siêu mỏng để tạo hình lại giác mạc theo một chương trình nhất định tùy thuộc loại và mức độ tật khúc xạ và phương pháp nâng cao được chọn.
Bước 3: Vạt giác mạc được trải cẩn thận trở lại che phủ nền giác mạc sau khi kết thúc chiếu laser.
Toàn bộ quy trình điều trị mất khoảng 10-15 phút cho 2 mắt, nhưng thực tế thời gian chiếu Laser chỉ trong khoảng vài giây cho đến vài chục giây
Phẫu thuật điều trị ngoại trú, không mất thời gian nằm viện, sau khi bác sĩ khám kiểm tra lại vết mổ, bệnh nhân ra về. Trước khi phẫu thuật bệnh nhân được nhỏ thuốc tê để không có cảm giác đau, sau phẫu thuật chỉ cần nhỏ thuốc, không cần uống thuốc trừ trường hợp có chỉ định. Thời gian phục hồi rất nhanh, một giấc ngủ ngắn sau khi về nhà sẽ nhanh chóng làm giảm cảm giác cộm xốn, chảy nước mắt nếu có.
Hiện phương pháp này được xem là tương đối hoàn chỉnh và an toàn cao để điều trị các tật cận, viễn và loạn thị.
Laser được sử dụng là laser Excimer, có bước sóng 193 nm, được kích hoạt bởi hỗn hợp khí Argon Fluoride, không sinh nhiệt.
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc về công nghệ, các phương pháp laser đặc biệt được áp dụng để nâng cao chất lượng thị giác cho bệnh nhân. Các chương trình ngày càng phong phú bao gồm: laser theo cá thể, laser phi cầu, laser liên kết bản đồ giác mạc. Để tăng hiệu quả và tính chính xác của các chương trình này, nhiều công nghệ hết sức hiện đại, tiên tiến của chuyên ngành thần kinh, khoa học hàng không vũ trụ, an ninh, được đưa vào ứng dụng phối hợp như các máy đo quang sai bậc cao, nhận dạng mống mắt, hệ thống định vị tâm đồng tử 2 chiều, 3 chiều, định vị trục xoay tĩnh và động, định vị dựa trên nhận thức thần kinh (neurotrack).
Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015
Xuất huyết dưới kết mạc
Xuất huyết dưới kết mạc hay chảy máu mắt. Bề ngoài, tổn thương này có vẻ nghiêm trọng hơn thực tế. Xuất huyết dưới kết mạc là rỉ máu từ một hoặc nhiều mạch máu bị vỡ nằm giữa lớp củng mạc và kết mạc. Bề ngoài, tổn thương này có vẻ nghiêm trọng hơn thực tế. Xuất huyết dưới kết mạc là rỉ máu từ một hoặc nhiều mạch máu bị vỡ nằm giữa lớp củng mạc và kết mạc.
Xuất huyết dưới kết mạc là hiện tượng khá phổ biến và rất dễ xảy ra kể cả sau những chấn thương nhỏ nhất. Máu có thể chỉ giới hạn trong một vùng nhỏ hoặc cũng có thể loang trên khắp bề mặt, khiến cho mắt trở nên đỏ rực.
Xuất huyết dưới kết mạc thường không đau, không gây mất thị lực tạm thời hay vĩnh viễn và cũng không cần phải điều trị. Sau vài tuần, máu sẽ tan, mắt trở lại như bình thường.
Xuất huyết dưới kết mạc thường không đau, không gây mất thị lực tạm thời hay vĩnh viễn và cũng không cần phải điều trị. Sau vài tuần, máu sẽ tan, mắt trở lại như bình thường.
Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015
Khi bị vật nhọn hay vật thể lạ đâm vào mắt
Nếu như có vật thể lạ như kim loại hay móc cần câu đâm vào mắt bạn, hãy đến ngay các trạm y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời. Bạn có thể gây tổn thương nhiều hơn cho mắt nếu như cứ cố gắng tự lấy vật đó hoặc dụi mắt. Nếu có thể, nên băng hờ mắt để bảo vệ tạm thời rồi sau đó tìm sự trợ giúp.
Mắt bạn đôi lúc cũng có thể còn sót lại những mảnh sắc, nhỏ nằm trên giác mạc nhưng chưa đâm sâu vào trong mắt. Những mảnh vụn kim loại này có thể nhanh chóng rỉ sét và để lại sẹo. Các mảnh vỡ đó nên được bác sĩ gắp bỏ càng sớm càng tốt.
Mắt bạn đôi lúc cũng có thể còn sót lại những mảnh sắc, nhỏ nằm trên giác mạc nhưng chưa đâm sâu vào trong mắt. Những mảnh vụn kim loại này có thể nhanh chóng rỉ sét và để lại sẹo. Các mảnh vỡ đó nên được bác sĩ gắp bỏ càng sớm càng tốt.
Viêm màng bồ đào
Viêm màng bồ đào là viêm lớp mạch máu ở giữa thành nhãn cầu, bệnh khá phổ biến, thường có những tổn thương nặng nề, nhiều biến chứng, hay tái phát khó xác định nguyên nhân. Nhiều trường hợp dẫn đến mù lòa. Bệnh thường xảy ra trên những người trẻ và trung niên.
Triệu chứng: Gồm: Đau, sợ ánh sáng và nhìn mờ ở mắt bệnh. Dấu hiệu điển hình là ở lớp bao phủ tròng trắng, mạch máu cương tụ rõ rệt, đỏ tập trung sát tròng đen. Trường hợp nặng có thể có một ngấn mủ ở phía dưới tròng đen của mắt (gọi là mủ tiền phòng). Trái với hiện tượng đồng tử dãn vừa ở Glaucoma góc đóng cấp, ở viêm màng bồ đào, đồng tử co nhỏ, nhỏ hơn so với bên lành, có thể không tròn đều và phản xạ chậm với ánh sáng. Viêm màng bồ đào có khả năng gây ra bệnh cườm nước (Glaucoma), dính mống, đục thủy tinh thể và rối lạn chức năng hoàng điểm. Vì bệnh có thể dẫn đến mù lòa, cần chuyển ngay đến bệnh viện có chuyên khoa mắt.
Hội chứng mắt đỏ có thể bao gồm nhiều bệnh, từ những bệnh rất nhẹ có thể tự khỏi trong vòng một tuần đến những bệnh nặng nhiều biến chứng, có thể dẫn đến mù lòa. Việc tự ý điều trị là rất nguy hiểm. Một số loại thuốc (VD như thuốc có chứa Corticoides) có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh. Vì vậy để điều trị đúng, tránh biến chứng, người bệnh cần được khám cụ thể và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa mắt.
Triệu chứng: Gồm: Đau, sợ ánh sáng và nhìn mờ ở mắt bệnh. Dấu hiệu điển hình là ở lớp bao phủ tròng trắng, mạch máu cương tụ rõ rệt, đỏ tập trung sát tròng đen. Trường hợp nặng có thể có một ngấn mủ ở phía dưới tròng đen của mắt (gọi là mủ tiền phòng). Trái với hiện tượng đồng tử dãn vừa ở Glaucoma góc đóng cấp, ở viêm màng bồ đào, đồng tử co nhỏ, nhỏ hơn so với bên lành, có thể không tròn đều và phản xạ chậm với ánh sáng. Viêm màng bồ đào có khả năng gây ra bệnh cườm nước (Glaucoma), dính mống, đục thủy tinh thể và rối lạn chức năng hoàng điểm. Vì bệnh có thể dẫn đến mù lòa, cần chuyển ngay đến bệnh viện có chuyên khoa mắt.
Hội chứng mắt đỏ có thể bao gồm nhiều bệnh, từ những bệnh rất nhẹ có thể tự khỏi trong vòng một tuần đến những bệnh nặng nhiều biến chứng, có thể dẫn đến mù lòa. Việc tự ý điều trị là rất nguy hiểm. Một số loại thuốc (VD như thuốc có chứa Corticoides) có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh. Vì vậy để điều trị đúng, tránh biến chứng, người bệnh cần được khám cụ thể và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa mắt.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)

